Giải Đáp: Quân Đội Nước Nào Trong Phe Đồng Minh Tiến Vào Miền Bắc Nước Ta Sau 1945?

quân đội nước nào trong phe đồng minh tiến vào miền bắc nước ta?

Quân đội Trung Hoa Dân Quốc (thường được gọi là quân Tưởng) chính là lực lượng thuộc phe Đồng minh tiến vào miền Bắc nước ta sau năm 1945, tính từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc. Cụ thể, việc điều động này được thực hiện dựa trên các quyết định phân chia phạm vi giải giáp quân đội phát xít Nhật của các cường quốc thắng trận tại Hội nghị Potsdam. Đáng chú ý, sự hiện diện của hơn 20 vạn quân Trung Hoa Dân Quốc không đơn thuần là một nhiệm vụ quân sự quốc tế mà còn kéo theo những hệ lụy chính trị phức tạp, trực tiếp đặt nền độc lập non trẻ của Việt Nam vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

Lý do quân Trung Hoa Dân Quốc tiến vào miền Bắc bắt nguồn từ Sắc lệnh số 1 (General Order No. 1) do Thống tướng Douglas MacArthur ký kết, đồng thời chịu ảnh hưởng sâu sắc từ mưu đồ bành trướng của chính quyền Tưởng Giới Thạch tại khu vực Đông Nam Á. Bên cạnh đó, lực lượng này không đi một mình mà còn đưa theo các tổ chức phản động tay sai như Việt Quốc, Việt Cách nhằm thực hiện âm mưu tiêu diệt chính quyền Cách mạng lâm thời. Hơn nữa, việc nghiên cứu kỹ lưỡng giai đoạn này giúp chúng ta nhận diện rõ bộ mặt thật của các cường quốc trong việc sắp xếp trật tự thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Mục đích của quân đội Đồng minh khi vào miền Bắc trên danh nghĩa là thi hành nghĩa vụ quốc tế cao cả, tuy nhiên thực tế lại ẩn chứa những toan tính xâm lược và lật đổ chính quyền Hồ Chí Minh để thiết lập một chính phủ bù nhìn thân Trung Hoa. Quan trọng hơn, sự phối hợp ngầm giữa quân Tưởng và các thế lực đế quốc khác đã tạo ra một “gọng kìm” bóp nghẹt nền kinh tế và an ninh của nước ta lúc bấy giờ. Sau đây, eurosphere.com.vn sẽ đi sâu vào phân tích chi tiết từng khía cạnh, từ quy mô quân số đến những âm mưu thâm độc nhất của lực lượng này.

Quân đội nước nào trong phe Đồng minh tiến vào miền Bắc nước ta sau năm 1945?

Quân đội Trung Hoa Dân Quốc là lực lượng quân sự chính quy của chính quyền Tưởng Giới Thạch, đại diện cho phe Đồng minh tiến vào miền Bắc Việt Nam để tiếp nhận sự đầu hàng của phát xít Nhật vào cuối tháng 8 năm 1945.

Bài viết liên quan  Sự Kiện Nào Đánh Dấu Chế Độ Phong Kiến Ở Việt Nam Sụp Đổ Hoàn Toàn?

quân đội nước nào trong phe đồng minh tiến vào miền bắc nước ta?

Dưới đây, chúng ta sẽ phân tích cụ thể về nguồn gốc pháp lý và quy mô thực tế của lực lượng viễn chinh khổng lồ này:

Tại sao quân Trung Hoa Dân Quốc lại được quyền tiến vào miền Bắc Việt Nam?

  • Phân chia tại Hội nghị Potsdam: Vào tháng 7/1945, các nguyên thủ Anh, Mỹ, Liên Xô đã họp tại Potsdam (Đức). Tại đây, họ thống nhất chia Đông Dương thành hai khu vực giải giáp quân Nhật lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới: phía Bắc giao cho Trung Hoa Dân Quốc, phía Nam giao cho quân đội Anh.
  • Sắc lệnh của MacArthur: Ngày 15/8/1945, sau khi Nhật đầu hàng, Thống tướng Mỹ Douglas MacArthur ban bố Sắc lệnh số 1, chính thức hóa việc quân Tưởng kéo vào miền Bắc Việt Nam.
  • Vị thế quốc tế: Lúc này, Trung Hoa Dân Quốc là một trong năm ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc tương lai, có ưu thế về địa lý sát vách Việt Nam nên được chọn làm lực lượng ủy thác của phe Đồng minh.

Lực lượng quân Tưởng tiến vào nước ta có quy mô như thế nào?

Để hiểu được áp lực khủng khiếp mà chính quyền Cách mạng phải chịu đựng, hãy nhìn vào số liệu chi tiết về binh lực của chúng:

  • Số lượng quân số: Tổng cộng có khoảng 20 vạn quân (200.000 người). Đây là con số khổng lồ nếu so với dân số và lực lượng vũ trang non trẻ của ta lúc bấy giờ (vốn chỉ có vài nghìn chiến sĩ giải phóng).
  • Cấu trúc biên chế: Quân Tưởng chia thành 4 quân đoàn (Quân đoàn 62, 93, 52 và 60) tràn qua các ngả biên giới phía Bắc và phía Tây Bắc.
  • Người chỉ huy: Tướng Lư Hán (Chủ tịch tỉnh Vân Nam) giữ vai trò Tổng chỉ huy. Đi cùng ông ta là những viên tướng sừng sỏ như Tiêu Văn, Hà Ứng Khâm.
  • Hậu cần tàn bạo: Chúng mang theo một đội quân hậu cần yếu kém, chủ yếu sống dựa vào việc vơ vét lương thực, thực phẩm của nhân dân Việt Nam, gây ra áp lực nặng nề lên nền kinh tế đang kiệt quệ sau nạn đói năm 1945.
Bài viết liên quan  Giải đáp Đại Dương Lớn Nhất Thế Giới Là Gì? 5 Sự Thật Về Thái Bình Dương

Mục đích của quân đội Đồng minh khi vào miền Bắc là gì?

Mục đích của quân đội Đồng minh khi vào miền Bắc bao gồm thực hiện nhiệm vụ quốc tế giải giáp quân Nhậtthi hành âm mưu chính trị “Diệt Cộng cầm Hồ” nhằm xóa bỏ nền độc lập của Việt Nam.

Nhằm làm rõ bản chất của lực lượng này, chúng ta cần đối chiếu sự khác biệt giữa lời nói và hành động của phe Đồng minh tại hai miền Nam – Bắc:

Quân Tưởng và quân Anh có điểm gì khác biệt khi vào Việt Nam?

Mặc dù cùng là phe Đồng minh, nhưng quân Tưởng ở miền Bắc và quân Anh ở miền Nam có những toan tính và phương thức hành động rất khác nhau:

Tiêu chí so sánh Quân đội Trung Hoa Dân Quốc (Miền Bắc) Quân đội Anh (Miền Nam)
Vị trí chiếm đóng Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam
Thái độ với Pháp Ban đầu kìm hãm Pháp để giành quyền lợi riêng, sau đó “bán đứng” Việt Nam qua Hiệp ước Hoa – Pháp. Trực tiếp hỗ trợ quân Pháp, trang bị vũ khí và mở đường cho Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn.
Âm mưu chính trị Lật đổ chính quyền Hồ Chí Minh, đưa tay sai (Việt Quốc, Việt Cách) lên nắm quyền. Khôi phục lại trật tự thực dân cũ, bảo vệ quyền lợi của thực dân Anh tại các thuộc địa lân cận.
Phương thức phá hoại Phá hoại kinh tế bằng tiền Quan kim, lũng đoạn chính trị bằng cách đòi ghế trong Quốc hội. Sử dụng vũ lực quân sự trực tiếp để trấn áp các phong trào kháng chiến của nhân dân miền Nam.

Cụ thể hơn, trong khi quân Anh sử dụng bạo lực để “dọn đường” cho Pháp, thì quân Tưởng lại sử dụng chiến thuật “nhu mỳ bên ngoài, hiểm độc bên trong” để từng bước thôn tính bộ máy lãnh đạo của chúng ta.

Những hệ quả và đối sách của Chính phủ ta đối với quân đội Đồng minh

Đối sách của Chính phủ ta đối với quân đội Đồng minh được tóm gọn trong chiến lược “Hòa để tiến”, chấp nhận những nhượng bộ tạm thời về kinh tế và chính trị để giữ vững chủ quyền dân tộc.

Bên cạnh đó, chúng ta sẽ khai thác những tình tiết lịch sử hiếm khi được nhắc tới trong các sách giáo khoa phổ thông để thấy rõ sự hiểm nghèo của thời cuộc:

“Diệt Cộng cầm Hồ” – Âm mưu thâm độc của quân Tưởng tại miền Bắc

Nó thể hiện dã tâm tột cùng của chính quyền Tưởng Giới Thạch.

  • Bản chất khẩu hiệu: “Diệt Cộng” là tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương; “Cầm Hồ” là bắt giữ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  • Hoạt động của tay sai: Chúng chỉ đạo các tổ chức Việt Quốc (Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh) và Việt Cách (Nguyễn Hải Thần) tổ chức ám sát cán bộ, bắt cóc tống tiền, và gây ra các vụ bạo loạn tại Hà Nội (điển hình là vụ án phố Ôn Như Hầu).
  • Sức ép chính trị: Quân Tưởng buộc Chính phủ ta phải dành cho chúng 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử và giao các bộ quan trọng như Bộ Ngoại giao, Bộ Kinh tế cho phe thân Tưởng.
  • Phá hoại kinh tế: Chúng ép nhân dân ta phải tiêu tiền Quan kim và Quốc tệ – những loại tiền giấy đã mất giá hoàn toàn ở Trung Quốc – nhằm rút cạn tài chính của quốc gia non trẻ.
Bài viết liên quan  Đứng Đầu Nhà Nước Và Thay Mặt Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Về Đối Nội Và Đối Ngoại Là Ai?

Tại sao quân Trung Hoa Dân Quốc lại rút khỏi miền Bắc vào năm 1946?

Sự rút lui của quân Tưởng không phải vì họ tự nguyện, mà là kết quả của một ván bài chính trị lớn giữa các cường quốc:

  • Hiệp ước Hoa – Pháp (28/02/1946): Thực dân Pháp lo sợ mất quyền lợi tại Đông Dương nên đã thỏa hiệp với Tưởng Giới Thạch. Pháp nhượng bộ các đặc quyền kinh tế tại Thượng Hải, Quảng Châu và đường sắt Vân Nam cho Tưởng để đổi lấy quyền đưa quân ra miền Bắc Việt Nam thay thế quân Tưởng.
  • Sự lựa chọn của ta: Đứng trước hai kẻ thù (Pháp và Tưởng), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn “Hòa với Pháp để đuổi quân Tưởng”. Đây là một quyết định vô cùng đau đớn nhưng sáng suốt để đuổi được 20 vạn quân cướp nước ra khỏi bờ cõi mà không tốn một viên đạn.
  • Áp lực nội chiến: Tại Trung Quốc, quân Giải phóng của Mao Trạch Đông đang thắng thế. Tưởng Giới Thạch cần tập trung toàn bộ binh lực để cứu vãn sự sụp đổ của chế độ mình tại đại lục, nên việc rút quân khỏi Việt Nam cũng là một tất yếu quân sự.

Tác động của sắc lệnh General Order No. 1 đối với số phận Đông Dương

  • Tính pháp lý quốc tế: Sắc lệnh này đã biến Việt Nam thành một quân cờ trong chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản của Mỹ tại Đông Nam Á.
  • Mâu thuẫn Đồng minh: Chính sắc lệnh này đã tạo ra sự chồng chéo quyền lực, khiến thực dân Pháp phải chật vật ngoại giao với cả Mỹ và Trung Hoa để quay lại thuộc địa cũ, vô hình trung tạo ra khoảng trống thời gian quý báu cho Việt Nam củng cố lực lượng.

Theo số liệu thống kê lịch sử, trong thời gian chiếm đóng ngắn ngủi từ tháng 9/1945 đến tháng 6/1946, quân Tưởng đã khiến giá gạo tại Hà Nội tăng gấp 10 lần do hành vi đầu cơ tích trữ và cưỡng bức cung phụng. Điều này cho thấy sự tàn bạo của một đội quân “đồng minh” nhưng lại hành xử như một đạo quân xâm lược.

Quân đội Trung Hoa Dân Quốc chính là lực lượng phe Đồng minh tiến vào miền Bắc nước ta sau 1945. Sự hiện diện của họ là một phép thử cực đại đối với bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhờ chính sách ngoại giao tài tình, chúng ta đã biến nguy thành an, lần lượt tiễn đưa những kẻ thù nguy hiểm nhất ra khỏi bờ cõi để tập trung cho cuộc kháng chiến trường kỳ sau này.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *